Join nhóm Facebook Thảo luận & Hỗ Trợ nhé!
Trong hệ thống khoa cử thời cổ đại của nước ta, các kỳ thi được chia làm hai loại là Đồng tử thí và Chính thí.
Trước hết, xin bàn về Đồng tử thí. Điểm khác biệt của Đồng tử thí thời Minh so với thời Đường, Tống là không có giới hạn độ tuổi. Người dự thi bất kể tuổi tác lớn nhỏ đều có thể tham gia. Đồng tử thí bao gồm ba giai đoạn: Huyện thí, Phủ thí và Viện thí, cứ ba năm tổ chức hai kỳ thi. Các năm Sửu, Mùi, Thìn, Tuất là Tuế khảo; các năm Dần, Thân, Tỵ, Hợi là Khoa khảo.
Huyện thí do quan huyện chủ trì. Đồng sinh muốn lấy được xuất thân (tức tư cách), trước hết phải tham gia Huyện thí tại bản huyện. Kỳ thi thường diễn ra vào tháng Hai. Thí sinh đến Lễ phòng của huyện nha báo danh, điền rõ tên họ, quê quán, tuổi tác, lý lịch ba đời, đồng thời phải có giấy bảo lãnh của Lẫm sinh trong huyện để xác nhận thông tin là thật. Kỳ thi gồm năm trường, các trường lần lượt thi Bát cổ văn, Dán thơ, Kinh luận, Luật phú, v.v. Sau khi thi đỗ mới có tư cách tham gia kỳ Phủ thí ở cấp bậc cao hơn, vì vậy Huyện thí thực chất là kỳ thi lấy tư cách.
Ngày thi Huyện thí thường định vào tháng Hai. Khi nhập trường, thí sinh nhận bài thi có in dãy số, theo số hiệu mà vào chỗ ngồi, tiến hành bốn hoặc năm trường thi. Trường thứ nhất gọi là Chính trường. Trường thứ hai gọi là Chiêu phúc (hoặc sơ phúc). Trường thứ ba là Lại phúc. Trường thứ tư, thứ năm là Liên phúc. Mỗi trường thi một ngày, sáng sớm điểm danh vào trường, hạn trong ngày phải nộp bài. Số lượng trúng tuyển ở Chính trường khá rộng rãi. Ví dụ, có 1000 người dự thi, Chính trường lấy 700 người, thì 700 người đó vào thi Sơ phúc; Sơ phúc lại lấy 500 người, cứ thế giảm dần đến Liên phúc, số lượng người còn lại không nhiều. Sau mỗi trường thi đều phải yết bảng, gọi là “Xuất án”. Bảng cáo thị ba hoặc bốn trường đầu thường viết tên họ thí sinh trong những vòng tròn, gọi là “Viên án”, tục gọi là “Viên” hoặc “Đoàn”. Lấy 50 người đứng đầu làm một vòng. Vòng tròn chia làm hai tầng nội ngoại, ngoại vòng 30 người, nội vòng 20 người. Cũng có khi không phân trong ngoài, gộp 50 người thành một vòng lớn. Trong vòng tròn dùng bút son viết một chữ “Trung”, chữ “Trung” này được viết theo lối trên dài dưới ngắn, tựa như phần trên của chữ “Quý”, mang ý nghĩa cát tường. Tầng ngoài ở giữa viết tên người đỗ đầu, các thứ tự khác sắp xếp lần lượt từ trái sang phải. Bởi vì tên họ thí sinh trên bài thi được niêm phong, khi yết bảng chỉ có thể ghi theo số hiệu chỗ ngồi, nên thí sinh trúng tuyển gọi là “Xuất vòng” hoặc “Xuất hào”. Đến lần yết bảng cuối cùng mới liệt kê tên họ của tất cả thí sinh trúng tuyển theo thứ tự, gọi là “Trường án”. Người đỗ đầu gọi là Huyện án đầu.
Phủ thí là kỳ thi dành cho những sĩ tử đã đỗ Huyện thí, do Tri phủ hoặc Tri châu chủ khảo. Kỳ thi thường diễn ra vào tháng Tư, thủ tục báo danh tương tự Huyện thí. Sau khi trúng tuyển mới có thể tham gia Viện thí.
Viện thí do Học chính (còn gọi là Học đài) của các tỉnh chủ trì. Những sĩ tử đã đỗ Phủ thí mới được tham gia. Vì Học chính còn được gọi là Đề đốc học viện nên kỳ thi này gọi là Viện thí. Thủ tục báo danh tương tự Phủ thí và Huyện thí. Sau khi thi đỗ, thí sinh sẽ được nhập Phủ học hoặc Huyện học để đọc sách, gọi là “Nhập học”. Khi đã xác định được thân phận Sinh viên (Sinh viên thời đó), mới có tư cách tham gia Chính thí của bản tỉnh.
Tiếp theo là Chính thí. Sau khi đã đỗ Viện thí, sĩ tử mới có thể tham gia Chính thí.
Chính thí chia làm ba giai đoạn: Thi hương, Thi hội và Thi đình.
Thi hương là cửa ải đầu tiên của Chính thí. Thời Minh, cứ ba năm một lần, các tỉnh sẽ tổ chức thi tại tỉnh thành, trường thi gọi là “Cống viện”. Phàm là người đã đỗ Đồng tử thí tại bản tỉnh đều được dự thi. Các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu là Chính khoa, nếu gặp dịp hoàng đế lên ngôi hoặc lễ mừng lớn thì mở thêm khoa thi gọi là “Ân khoa”. Kỳ thi gồm ba trường, người đỗ gọi là Cử nhân. Vì thi vào mùa thu nên còn gọi là Thu vi hoặc Thu khảo. Do thí sinh các huyện, phủ tập trung về tỉnh thành, triều đình sẽ phái quan chủ khảo đến. Người thi đỗ được gọi là Cử nhân. Như Phạm Tiến trúng cử trong tác phẩm 《Nho lâm ngoại sử》 mà mọi người đều biết, chính là trúng loại Cử nhân này.
Thi hội là cửa ải thứ hai của Chính thí. Thời Minh, kỳ thi này do Lễ Bộ tổ chức tại kinh thành, các Cử nhân trong cả nước đều có thể tham gia, ba năm một lần. Các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Chính khoa, nếu Thi hương có Ân khoa thì năm sau cũng tổ chức Thi hội, gọi là Thi hội Ân khoa. Cũng thi ba trường, người đỗ gọi là Cống sĩ. Vì thi vào mùa xuân nên còn gọi là Xuân vi hoặc Xuân khảo.
Thi đình là cửa ải thứ ba của Chính thí. Đây là chế độ khoa cử do hoàng đế trực tiếp ra đề vấn đáp tại điện đình đối với các Cống sĩ. Bắt đầu từ thời Võ Tắc Thiên nhà Đường, sau đó các đời sau noi theo. Đến thời Nguyên Thuận Đế, bắt đầu chia thành tích Thi đình thành ba giáp (tức cấp bậc), nhất giáp chỉ hạn ba người, đời Minh, Thanh noi theo, gọi là Tiến sĩ cập đệ. Người đỗ đầu là Trạng Nguyên, người thứ hai và thứ ba là Bảng Nhãn và Thám Hoa. Nhị giáp và Tam giáp lấy bao nhiêu người thì gọi chung là Tiến sĩ.
Trong Chính thí, người đỗ đầu Thi hương gọi là “Giải Nguyên”, người đỗ đầu Thi hội gọi là “Hội nguyên”, người đỗ đầu Thi đình gọi là “Trạng Nguyên”. Người ba lần thi đều đỗ đầu gọi là “Liên trung Tam nguyên”.
Thời Minh, Cử nhân đã có tư cách đảm nhận các chức vụ quan viên cấp thấp, nhưng thực tế khả năng được bổ nhiệm rất nhỏ. Thế nên trong mắt những kẻ cao cư thượng vị, Cử nhân gần như không đáng một đồng, nhưng chỉ cần là Cử nhân thì đã có thể cùng ngồi ăn với quan phủ, có quyền giám sát quan phủ, có quyền dâng sớ cáo trạng quan phủ, Cử nhân có quyền thị sát. Trong mắt thị dân bình thường, Cử nhân là những người cao cao tại thượng. Cử nhân thời Minh còn được hưởng đặc quyền miễn thuế, không ít người chủ động đem ruộng đất, sản nghiệp sang tên dưới danh nghĩa của thân sĩ để trốn tránh thuế khóa và lao dịch. Đây cũng là một nguồn thu nhập của thân sĩ.
Tóm lại, thời Minh phải đạt đến học vị Tiến sĩ mới thực sự có tư cách nhập sĩ làm quan.
Bạn thấy sao?